Khoản 2 Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định "Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội". Trên cơ sở Hiến pháp 2013, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ tại khoản 4 Điều 2: “Nhà nước, xã hội có trách nhiệm… giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ”. Khi hôn nhân còn tồn tại, quyền làm mẹ của phụ nữ được đảm bảo bằng tình cảm gắn kết giữa vợ chồng, sự thiện chí và tự nguyện của các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, khi hôn nhân không đạt được mục đích mong muốn, dẫn đến các mối liên kết tan vỡ bắt đầu từ quan hệ vợ - chồng, kéo theo quan hệ giữa gia đình vợ - gia đình chồng, thì quyền làm mẹ của người phụ nữ có nguy cơ bị hạn chế, hoặc không thực hiện được. Nhằm bảo vệ quyền làm mẹ cho người phụ nữ khi ly hôn, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những quy định cụ thể như sau:
1. Quyền được nuôi con.
Khoản 2, khoản 3, Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 của Việt Nam quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi ly hôn như sau:
"...2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."
Như vậy, về nguyên tắc, việc nuôi con khi ly hôn trước hết do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con thì Tòa án sẽ tôn trọng thỏa thuận hoặc giao người cha hay người khác đáp ứng đủ điều kiện để chăm sóc con.
Có nhiều quan điểm về việc tại sao lại quy định "Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi", đa số cho rằng việc nuôi con nhỏ là thiên chức của người mẹ nên sẽ đảm bảo điều kiện phát triển cho con tốt hơn khi giao cho cha. Cũng vì vậy mà khi muốn giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người chồng thường đưa ra nhiều bằng chứng như: thu nhập, tài sản, chỗ ở không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu về ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…của con; không có thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn... để cho rằng người vợ không đủ điều kiện để nuôi con. Theo quan điểm người viết thì ở đây nên hiểu quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi là ưu tiên dành cho người phụ nữ không chỉ vì con nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, mà còn vì người phụ nữ cần được thực hiện quyền làm mẹ. Đặc biệt khi con dưới 36 tháng tuổi việc tách con ra khỏi mẹ trái ý muốn là việc rất khó chấp nhận và có thể mang đến những tác động nghiêm trọng đến tâm lý người mẹ, đồng thời đi ngược với nguyên tắc đảm bảo quyền của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc về tình mẫu tử.
2. Quyền được thăm nom con sau khi ly hôn
Mặc dù người mẹ được ưu tiên nhiều hơn nhưng không ít trường hợp người cha được tòa án quyết định trao quyền nuôi con, vì ngoài vấn đề thiên chức làm mẹ, việc nuôi dưỡng một đứa trẻ còn đòi hỏi nhiều điều kiện khác như kinh tế, tinh thần, xã hội…Trong trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, người vợ phải được đảm bảo quyền được thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở, điều này đảm bảo cho người phụ nữ được thực hiện quyền của mình đồng thời cũng tạo điều kiện phát triển tốt nhất về tâm sinh lý và đời sống tinh thần của con chung.
Thực tiễn xét xử ở địa phương có nhiều trường hợp người vợ khi ly hôn không được chồng và gia đình chồng tạo điều kiện để thăm nom con chung, đồng thời lại tác động vào tâm lý con chung nhằm chia rẽ tình cảm, hạn chế quyền thăm nom của người mẹ, cá biệt có trường hợp người mẹ khi về thăm con bị xúc phạm, công kích bằng lời nói và cả hành động... Những thực tế này cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết các vụ án tranh chấp ly hôn bị trì hoãn, kéo dài, bởi mặc dù biết không đủ khả năng nuôi con nhưng vì lo sợ sẽ bị hạn chế quyền làm mẹ nên người vợ nhất quyết không đồng ý giao con chung cho chồng nuôi dưỡng.
Để đảm bảo quyền được thăm nom con chung sau khi ly hôn, khoản 3, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Tương tự tại điểm d khoản 1 Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 xác định hành vi "Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau" là một loại hành vi bạo lực gia đình, sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng theo quy định tại Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
3. Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
Khoản 1, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con”.
Quyền này áp dụng cho cả vợ và chồng nhưng có ý nghĩa quan trọng hơn với người vợ. Bởi theo văn hóa truyền thống người Việt Nam, đặc biệt ở các vùng nông thôn, thì người chồng đóng vai trò trụ cột trong gia đình, tạo dựng và nắm giữ kinh tế gia đình, người vợ chỉ ở nhà, đóng vai trò chăm lo nội trợ, nuôi dạy con cái, thường không tự lập, tự chủ về kinh tế. Nhiều trường hợp khi hôn nhân tan vỡ, người vợ hoàn toàn không có thu nhập, tài sản và điều kiện vật chất để giành quyền nuôi con nên phải thỏa thuận hoặc bị buộc phải giao quyền nuôi con chung cho người chồng. Quy định này cho phép người vợ khi có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung có quyền thỏa thuận về việc thay đổi hoặc khi người chồng không còn đủ điều kiện chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con. Điều này giúp người phụ nữ có cơ hội được thực hiện quyền làm mẹ, được chăm sóc con mình sau khi ly hôn trong trường hợp trước đó họ không có đủ điều kiện thực hiện.
Ly hôn là giải pháp cuối cùng khi mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài, một số người xem là lối thoát để đi tiếp, một số người xem là thất bại và dừng lại.
Trong một chừng mực nào đó, có thể nói ly hôn tác động tiêu cực đến xã hội, gia đình và đặc biệt là người vợ nhiều hơn bởi đặc trưng về thể chất, tinh thần và tâm sinh lý được cho là yếu thế hơn so với người chồng.
Vì vậy mà việc đảm bảo quyền làm mẹ của phụ nữ sau ly hôn là vấn đề được pháp luật chú trọng và bảo vệ. Trong giới hạn bài viết, người viết hy vọng những quy định đầy tính nhân văn và bảo vệ phụ nữ sẽ được nghiên cứu, đưa vào áp dụng trong thực tiễn nhiều hơn. Đồng thời có cơ chế bảo đảm thực hiện hiệu quả hơn, nhằm hạn chế các hậu quả tiêu cực, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, là những đối tượng dễ bị tổn thương cần được bảo vệ.
Lan Ngọc
Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Tiền Giang thực hiện