Trên thực tế hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền hay hiện vật rất đa dạng, bằng nhiều hình thức khác nhau. Ở mỗi địa phương, mỗi vùng miền cũng có nhiều hình thức đánh bạc không giống nhau; cách thức thắng thua cũng khác vì chủ yếu do người tham gia đánh bạc quy ước với nhau.
Tội đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do Điều luật không quy định chi tiết, cụ thể hành vi đánh bạc, cũng như cách xác định tiền, hiện vật của đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Trước đây có Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (gọi tắt Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP) hướng dẫn áp dụng Điều 248 về tội đánh bạc của Bộ luật hình sự 1999. Tuy nhiên Nghị quyết này cũng không nêu hết được tất cả các hình thức đánh bạc ăn thua bằng tiền, hiện vật, cũng như cách thức tính tiền, hiện vật của đối tượng dùng vào việc đánh bạc để xem xét trách nhiệm hình sự. Do đó nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thống nhất, nên thực tế việc xác định số tiền, hiện vật của đối tượng dùng vào việc đánh bạc để làm căn cứ xử lý hình sự còn vướng mắc. Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP cũng đã không còn hiệu lực kể từ ngày 08/10/2021, đến nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn áp dụng Điều 321 BLHS, nên việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử tội phạm đánh bạc càng gặp khó khăn hơn.
Tác giả xin nêu ví dụ mà trong thực tế đã xảy ra tương tự, nhưng hiện có nhiều quan điểm về cách tính số tiền dùng vào việc đánh bạc của người đá gà ăn thua bằng tiền:
VD: A và B đứng ra tổ chức cho các con bạc đá gà ăn tiền như chọn địa điểm, chuẩn bị băng keo, cựa sắt, cân, sổ ghi chép, trực tiếp cân gà, làm trọng tài phân định thắng thua, quy định mức thu tiền sân và thu tiền của bên thua chung cho bên thắng, cụ thể như sau:
Trận 1: Gà của C (bên đỏ) đá với gà của D (bên xanh). Đá xổ 3.000.000đ. Tiền sân 200.000đ do bên thắng trả. Kết quả gà của C thắng gà của D, nên D đưa cho A là người tổ chức 3.000.000đ để A chung C. Sau khi nhận 3.000.000đ của D, A lấy 200.000đ tiền sân, còn lại 2.800.000đ A đưa cho C.
Quan điểm thứ nhất: Số tiền dùng vào đánh bạc trong trận đá gà này của C và D mỗi người là 6.000.000đ (3.000.000đ của C + 3.000.000đ của D). Lý do để xác định số tiền dùng vào việc đánh bạc của mỗi người như đã nêu trên là trận đá gà này có tính chất đối kháng ăn thua giữa C và D, nên việc tính số tiền của mỗi người dùng vào việc đánh bạc để làm căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự là tổng của số tiền của C và D bỏ ra để tham gia đánh bạc.
Quan điểm thứ hai: Đây là trường hợp đánh bạc có người đứng ra tổ chức (còn gọi là nhà cái), giống như tổ chức kỳ đua ngựa cũng có nhà cái đứng ra tổ chức, người tham gia cá cược trong đợt đua ngựa cũng có người thắng, người thua, cũng mang tính chất đối kháng (có người cược ngựa số 1 thắng người cược ngựa số 2, số 3…), người tham gia đánh bạc không trực tiếp chung chi tiền cho nhau mà người thua phải chung tiền cho người tổ chức (nhà cái), sau đó người tổ chức có trách nhiệm đưa lại cho bên thắng. Theo nguyên tắc bất thành văn thì trường hợp bên thua không chung tiền cho người tổ chức để trả cho bên thắng thì người đứng ra tổ chức phải có trách nhiệm trả số tiền này cho bên thắng. Nên trong trường hợp này, việc xác định số tiền dùng để đánh bạc của từng người để làm căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự, được tính như sau:
- Số tiền của C dùng vào việc đánh bạc là: 3000.000đ (vốn)+3.000.000đ (thắng) – 200.000đ (tiền sân) = 5.800.000đ;
- Số tiền của D dùng vào việc đánh bạc là: 3000.000đ (vốn).
Nếu quan điểm thứ nhất đúng thì người theo quan điểm thứ hai sẽ bỏ lọt người phạm tội là D. Còn quan điểm thứ hai đúng, thì người theo quan điểm thứ nhất sẽ xử lý oan đối với D.
Tác giả rất mong quý đọc giả trao đổi thêm.
Đối với cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, đảm bảo việc xử lý đúng người, đúng tội./.
Phạm Thị Thanh Tuyền
Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Tiền Giang thực hiện