Responsive Image
Vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Phóng to Thu nhỏ In

= = =

Trong chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam, tội danh “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được thiết lập như một công cụ pháp lý nhằm chặn đứng quá trình hợp pháp hóa tài sản phạm pháp, qua đó tước bỏ động lực vật chất của người chiếm đoạt. Quy định này không chỉ hướng tới việc ngăn chặn dòng chảy tài sản phi pháp vào nền kinh tế hợp pháp mà còn góp phần củng cố hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa đối với tội phạm xâm phạm sở hữu.


 

Tuy nhiên, dù mang ý nghĩa quan trọng, quá trình áp dụng trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định, chứng minh yếu tố “biết rõ” trong lỗi và giải quyết sự bất cân xứng giữa tính chất hành vi tiêu thụ, chứa chấp với tội phạm gốc (các tội xâm phạm sở hữu tài sản phát sinh trước đó).

1. Vấn đề xác định lỗi “biết rõ” trong tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Yếu tố lỗi cố ý trực tiếp “biết rõ” là dấu hiệu đặc trưng và bắt buộc trong cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự (BLHS). Tuy nhiên, BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay vẫn chưa đưa ra định nghĩa pháp lý thống nhất về nội hàm của khái niệm này, dẫn đến cách hiểu và áp dụng thiếu đồng bộ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Về mặt lý luận, “biết rõ” phản ánh trạng thái nhận thức chủ quan của người phạm tội đối với nguồn gốc phi pháp của tài sản. Người tiêu thụ phải nhận thức được tài sản mình chứa chấp, mua bán, trao đổi là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của một hành vi phạm tội và vẫn cố ý thực hiện hành vi đó. Yếu tố “biết rõ” này là biểu hiện của lỗi cố ý trực tiếp, khác biệt hoàn toàn với trường hợp người tiêu thụ chỉ “có thể biết”, “nghi ngờ” hoặc do “thiếu thận trọng”, những trường hợp không đủ căn cứ cấu thành tội phạm.

Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTCTANDTC ngày 30/11/2011 chỉ đưa ra hướng dẫn mang tính khái quát rằng: người tiêu thụ được coi là “biết rõ” khi có căn cứ chứng minh họ nhận thức được tài sản có được trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành vi phạm tội1. Cách diễn đạt này còn mang tính định tính

1Khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTCTANDTC: “Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội”.

2

cao, chưa làm rõ mức độ nhận thức cần đạt tới và tiêu chuẩn chứng minh cụ thể cho cơ quan tố tụng.

Trong hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với các trường hợp cụ thể, Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao đã làm rõ: trường hợp người thực hiện hành vi chiếm đoạt không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng có đủ chứng cứ chứng minh người tiêu thụ biết rõ nguồn gốc phạm pháp của tài sản thì vẫn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người tiêu thụ2. Điều này khẳng định yếu tố lỗi “biết rõ” giữ vai trò trung tâm trong việc định tội và tội tiêu thụ được xác lập độc lập với tội gốc. Tương tự, Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 22/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng khẳng định: chỉ cần chứng minh người tiêu thụ có ý thức nhận biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản, dù giá trị tài sản không lớn, thì hành vi vẫn cấu thành tội phạm3.

Yếu tố “biết rõ” là dấu hiệu chủ quan, nằm bên trong ý thức, không thể quan sát trực tiếp mà chỉ có thể suy luận từ các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, việc thu thập, đánh giá chứng cứ phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc khách quan, toàn diện và suy đoán vô tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Nếu chỉ dựa vào quan hệ quen biết hay hoàn cảnh mua bán mà suy đoán người tiêu thụ “biết rõ” thì chưa đủ căn cứ vững chắc để buộc tội.

Trong thực tiễn, cơ quan tiến hành tố tụng thường phải dựa vào các dấu hiệu khách quan, suy luận từ tổng thể các tình tiết của vụ án để xác định yếu tố “biết rõ”:

Nguồn gốc và hoàn cảnh giao dịch tài sản: Đây là yếu tố then chốt. Nếu tài sản có được từ hành vi trộm cắp, lừa đảo hoặc cướp giật và được giao dịch trong những điều kiện bất thường (ví dụ: giá rẻ hơn rất nhiều so với thị trường, giao dịch gấp gáp, thiếu hóa đơn chứng từ), khả năng người tiêu thụ nhận thức được tính phi pháp của tài sản là

2Mục I.8 Công văn số 64/TANDTC-PC: “Theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn nêu trên thì mặt chủ quan của tội phạm này chỉ bắt buộc người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có, mà không buộc người tiêu thụ, chứa chấp phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa. Do vậy, trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng có đủ chứng cứ chứng minh được ý thức chủ quan của người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ biết rõ các tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ là do người khác phạm tội mà có thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

3Mục I.11 Công văn 2160/VKSTC-V14: “Q có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Ngày 04/10/2021, Q trộm cắp 01 chiếc tivi, sau đó, Q bán chiếc tivi cho T, T mua lại chiếc tivi đó. Định giá tài sản chiếc tivi có trị giá 1.000.000 đồng. Như vậy, mặc dù trị giá của chiếc tivi là 1.000.000 đồng, tuy nhiên, Q đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích nên hành vi của Q phạm tội Trộm cắp tài sản. Do đó, chiếc tivi là tài sản có được từ hành vi phạm tội và trong trường hợp T biết rõ tivi là tài sản do Q phạm tội mà có mà T cố ý mua lại thì hành vi này của T cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

3

rất cao. Thời gian và địa điểm giao dịch gần với hành vi phạm tội gốc cũng là cơ sở quan trọng để suy luận về nhận thức của họ. Ví dụ giao dịch lén lút, vào ban đêm, che đậy tài sản khi giao dịch…

Hành vi và thái độ của người tiêu thụ: Những hành vi như che giấu, tách riêng, cất giữ tài sản hoặc từ chối cung cấp thông tin hợp pháp về nguồn gốc tài sản đều phản ánh ý thức nhận biết chủ quan. Trường hợp các hành vi này lặp lại nhiều lần với các tài sản nghi ngờ phạm pháp, lập luận về yếu tố “biết rõ” càng trở nên thuyết phục.

Mức độ am hiểu về lĩnh vực kinh doanh và kiến thức pháp luật: Người có kinh nghiệm kinh doanh trong lĩnh vực liên quan hoặc có hiểu biết pháp luật mà vẫn không thực hiện các biện pháp xác minh nguồn gốc tài sản theo quy định, khả năng cao họ nhận thức đầy đủ về tính phi pháp của tài sản.

2. Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng - Sự bất cân xứng giữa tội gốc và tội phát sinh

Tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 BLHS được xếp vào nhóm tội có cấu thành hình thức. Đặc điểm này xuất phát từ các cơ sở sau:

Về bản chất hành vi: Việc chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ nguồn gốc phạm pháp đã thể hiện nguy cơ cho xã hội ngay tại thời điểm hành vi xảy ra. Dù người thực hiện hành vi không trực tiếp chiếm đoạt, họ vẫn tạo điều kiện cho tội phạm chính tiếp tục xâm phạm quyền sở hữu, làm gia tăng nguy cơ lây lan tội phạm và hợp pháp hóa tài sản phạm pháp. Nguy cơ này tồn tại độc lập với hậu quả vật chất thực tế hay giá trị tài sản, do đó hành vi khách quan đã đủ để cấu thành tội.

Về yếu tố chủ quan: Người phạm tội phải biết rõ nguồn gốc phạm pháp của tài sản, tức là thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Lỗi này vừa phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi, vừa xác định trách nhiệm pháp lý. Nếu luật buộc phải xảy ra hậu quả vật chất mới cấu thành tội, sẽ bỏ qua bản chất nguy hiểm vốn có và lỗi cố ý của người phạm tội, dẫn đến sự trừng phạt chậm trễ và giảm hiệu quả phòng ngừa.

Tuy nhiên, chính đặc điểm này lại dẫn đến sự bất cân xứng trong định tội và lượng hình giữa hành vi tiêu thụ, chứa chấp và hành vi chiếm đoạt. Hành vi tiêu thụ hoặc chứa chấp vốn là hành vi thứ cấp, gián tiếp xâm phạm quyền sở hữu, bị truy cứu hình sự độc lập theo Điều 323 BLHS. Trong khi đó, các tội gốc rất đa dạng, từ cấu thành hình thức (như cướp tài sản theo Điều 168, cướp giật tài sản theo Điều 171) đến cấu thành vật chất (như trộm cắp tài sản theo Điều 173, lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 BLHS).

4

Hệ quả là: người tiêu thụ, chứa chấp có thể bị xử lý hình sự nặng hơn người chiếm đoạt, nếu tội gốc với cấu thành vật chất nhưng hậu quả chưa đạt đến mức “nghiêm trọng đáng kể”, chưa đủ định lượng để định tội, và người phạm tội gốc chưa có tiền án tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản.

Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 19/5/2023 cũng nêu rõ, nếu giá trị tài sản nhỏ nhưng người mua biết rõ nguồn gốc phạm pháp của tài sản, hành vi vẫn cấu thành tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Thực tiễn xét xử cho thấy sự bất cân xứng này:

- Ví dụ minh họa thứ nhất là vụ án Nguyễn Khắc K. Trong vụ này, các đối tượng Nguyễn Hồng H và Nguyễn Thanh T đã trộm cắp 04 con chó của người dân tại xã X. Theo Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 24/5/2024,tổng giá trị thực của tài sản bị chiếm đoạt là 1.800.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt, họ mang số chó đã chết và có dấu vết bắn điện đến bán cho Nguyễn Khắc K, chủ quán “9999” ở xã Y. K đã quan sát thấy toàn bộ chó đều đã chết, có dấu vết bị bắn điện và trên xe của H, T có các dụng cụ chuyên dùng để bắn trộm chó. Dù nhận biết tính phi pháp của tài sản, K vẫn đồng ý mua toàn bộ số chó với giá 40.000 đồng/kg, tổng trọng lượng 45 kg, trị giá 1.800.000 đồng. Cơ quan tiến hành tố tụng xác định H đã biết rõ số chó là tài sản do H và T trộm cắp mà có nhưng vẫn cố ý mua để tiêu thụ, tiếp tay cho hành vi xâm phạm quyền sở hữu, gây nguy hiểm cho xã hội. K bị xử lý theo khoản 1 Điều 323 BLHS, chịu mức án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Ví dụ minh họa thứ hai là vụ án Nguyễn Phi H. Hồ Tấn C đã trộm dầu Diesel của Công ty TNHH MTV V vào các ngày 03/02/2023, 08/02/2023 và 14/02/2023, rồi đem bán cho Nguyễn Phi H với giá 500.000 đồng/1 can. Theo Bản kết luận định giá số 39/KL-HDDG ngày 05/4/2022, giá trị thực của tài sản bị chiếm đoạt từng lần là: 1.351.200 đồng (03/02/2023), 1.351.200 đồng (08/02/2023) và 1.293.600 đồng (14/02/2023), tổng cộng 3.996.000 đồng. H đã chuyển khoản cho C ba lần, mỗi lần 1.000.000 đồng. Tòa án nhận định H biết rõ nguồn gốc phạm pháp nhưng vẫn mua để sử dụng cho xe của mình, hành vi này gián tiếp xâm phạm quyền sở hữu và tiếp tay cho C trong việc trộm cắp, do đó H bị xử lý theo khoản 1 Điều 323 BLHS, chịu mức án 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Những vụ án trên thể hiện rõ sự bất cân xứng: hành vi tiêu thụ vốn là hành vi thứ cấp lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chịu hình phạt, trong khi hành vi chiếm đoạt trực tiếp có thể chỉ là vi phạm hành chính (nếu người phạm tội gốc không có tiền án, tiền sự và giá trị chiếm đoạt nhỏ). Về bản chất, hành vi tiêu thụ không trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu mà là hành vi hỗ trợ, gián tiếp gây nguy hiểm cho xã hội. Điều này

5

tạo ra mâu thuẫn giữa tính nguy hiểm thực tế của hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với chế tài bị áp dụng.

3. Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Để giải quyết các vướng mắc và bất cập nêu trên, việc hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ là cần thiết, nhằm đảm bảo tính thống nhất và công bằng:

Xây dựng định nghĩa pháp lý rõ ràng về yếu tố lỗi “biết rõ”: Cần có văn bản hướng dẫn chi tiết làm rõ phạm vi nhận thức và mức độ cố ý cần đạt tới của người tiêu thụ. Định nghĩa nên bao gồm các tiêu chí khách quan để suy luận, tránh tình trạng suy đoán vô căn cứ.

Tăng cường đào tạo và tập huấn nghiệp vụ: Đào tạo chuyên sâu về phương pháp xác định yếu tố lỗi chủ quan, phân tích chứng cứ và lượng hình trong tội tiêu thụ, nhằm nâng cao tính thống nhất và hiệu quả trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.

Định tội danh và lượng hình cần xem xét tính chất của tội gốc: Nên cân nhắc chỉ xem xét định tội danh “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” khi tội phạm gốc là tội có cấu thành vật chất đã xảy ra hậu quả nghiêm trọng đáng kể - tức là hậu quả phải đủ định lượng để định tội tương ứng theo cấu thành vật chất. Điều này nhằm tránh tình trạng xử lý nặng hơn tội gốc trong các trường hợp chiếm đoạt tài sản nhỏ.

Kết luận

Hoàn thiện quy định pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ về tội “chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là một yêu cầu tất yếu để đảm bảo tính thống nhất, công bằng và hiệu quả của chính sách hình sự, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Danh mục Tài liệu tham khảo

1. Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.

3. Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTCTANDTC ngày 30/11/2011 hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

4. Tòa án nhân dân tối cao (2019), Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử.

6

5. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2023), Công văn số 2160/VKSTC-V14 ngày 22/4/2023 về việc giải đáp vướng mắc trong thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử một số loại tội phạm.

 


HỮU HẬU – VIỆN KSND KHU VỰC 10 thực hiện