= = =
1. Đặt vấn đề
Thi hành án dân sự là giai đoạn sau cùng nhưng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trên thực tế, không ít bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành triệt để do người phải thi hành án lợi dụng các kẽ hở của pháp luật để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án mà còn làm giảm niềm tin của Nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật.
ảnh minh hoạ từ Internet
Qua nghiên cứu một số vụ việc cụ thể và rà soát các quy định pháp luật hiện hành, nhận thấy vẫn còn tồn tại những bất cập, đặc biệt là trong giai đoạn từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế thi hành án. Đây chính là “khoảng trống pháp lý” để người phải thi hành án lợi dụng thực hiện hành vi tẩu tán tài sản một cách hợp pháp về hình thức nhưng trái với bản chất công bằng của pháp luật.
2. Một số tình huống thực tiễn điển hình
2.1. Trường hợp bản án phát sinh trước nhưng thi hành án sau
Ông A khởi kiện bà B yêu cầu trả số tiền vay 500.000.000 đồng và lãi theo quy định. Ngày 01/9/2025, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà B phải trả cho ông A toàn bộ số tiền nêu trên, bà B kháng cáo bản án.
Trong thời gian Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết phúc thẩm, ông D (em ruột của bà B) khởi kiện bà B yêu cầu trả số tiền 3.000.000.000 đồng. Vụ việc được giải quyết theo thủ tục hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Tòa án khu vực ban hành quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. Trên cơ sở đó, ông D yêu cầu thi hành án; cơ quan thi hành án xác minh điều kiện thi hành án xác định bà B chỉ có một tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 15.000m² trị giá khoảng 2.500.000.000 đồng và đã ra quyết định cưỡng chế, xử lý tài sản này để thi hành án cho ông D.
Sau đó, Tòa án tỉnh xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà B, giữ nguyên bản án sơ thẩm buộc bà B trả cho ông A 500.000.000 đồng và lãi theo quy định. Ông A làm đơn yêu cầu thi hành án thì được xác định bà B không còn tài sản để thi hành.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự, toàn bộ số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản của bà B được ưu tiên thanh toán cho ông D là người được thi hành án theo quyết định cưỡng chế trước. Như vậy, mặc dù ông A là người khởi kiện trước, nhưng quyền lợi của ông không được bảo đảm trên thực tế.
2.2. Trường hợp lợi dụng quyền thỏa thuận thi hành án
Ngày 10/4/2023, bà H khởi kiện ông Đ yêu cầu trả số tiền vay gốc và lãi 670.000.000 đồng. Ngày 27/9/2023, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông Đ thực hiện nghĩa vụ trả tiền, ông Đ kháng cáo bản án.
Trong quá trình Tòa án tỉnh thụ lý phúc thẩm, bà C khởi kiện ông Đ yêu cầu trả 530.000.000 đồng và được Tòa án huyện ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ngày 04/10/2023. Sau đó bà C yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án xác minh ông Đ chỉ có hai thửa đất với tổng diện tích khoảng 10.000m².
Ngày 07/12/2023, cơ quan thi hành án lập biên bản thỏa thuận thi hành án giữa ông Đ, bà C và ông Q (em ruột của ông Đ), theo đó ông Q đồng ý nhận chuyển nhượng hai thửa đất với giá 1.000.000.000 đồng và nộp tiền để thi hành án cho bà C. Trên cơ sở thỏa thuận này, quyền sử dụng đất đã được sang tên cho ông Q.
Sau khi Tòa án tỉnh xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm buộc ông Đ trả cho bà H 670.000.000 đồng, bà H yêu cầu thi hành án thì được xác định ông Đ không còn tài sản để thi hành.
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự, việc thỏa thuận thi hành án giữa ông Đ và bà C được công nhận do không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, hệ quả là quyền lợi của bà H người khởi kiện trước không được bảo đảm.
2.3. Trường hợp chuyển dịch tài sản trong giai đoạn Tòa án đang thụ lý vụ án
Ngày 01/5/2024, ông A khởi kiện yêu cầu bà B trả số tiền vay 500.000.000 đồng. Trong thời gian Tòa án cấp sơ thẩm đang thụ lý giải quyết, bà B làm thủ tục chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 5.000m² là tài sản duy nhất cho ông C (em ruột của bà B) và hoàn tất thủ tục sang tên ngày 20/8/2024. Ông A không biết việc chuyển nhượng này nên không có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Sau khi bản án sơ thẩm tuyên buộc bà B trả tiền cho ông A và ông A yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án xác minh xác định bà B không còn tài sản nào để bảo đảm thi hành án.
3. Bất cập của pháp luật hiện hành
Qua các tình huống nêu trên có thể thấy, người phải thi hành án thường lợi dụng thời điểm bản án chưa có hiệu lực hoặc chưa bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp bảo đảm thi hành án để chuyển dịch toàn bộ tài sản, dẫn đến việc thi hành án sau đó trở nên khó thể thực hiện.
Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) quy định chỉ trong trường hợp tài sản đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế thi hành án thì khi phát sinh giao dịch liên quan, Chấp hành viên mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan.
Quy định này dẫn đến hệ quả là đối với các giao dịch được xác lập trước thời điểm áp dụng biện pháp ngăn chặn dù có dấu hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên không có cơ sở pháp lý để xử lý, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Để khắc phục những bất cập nêu trên cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP theo hướng mở rộng phạm vi xử lý các giao dịch có dấu hiệu tẩu tán tài sản, cụ thể:
“Kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án. Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đối với tài sản đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch.”
Việc xác định mốc “kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án” không làm hạn chế quyền tự do giao dịch dân sự một cách tùy tiện, nhưng tạo ra cơ chế phòng ngừa hiệu quả đối với các hành vi lợi dụng kẽ hở pháp luật để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, nhất là trong các trường hợp giao dịch với người thân thích hoặc có giá chuyển nhượng không phù hợp với thực tế.
5. Kết luận
Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản trong thi hành án dân sự là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn. Việc bổ sung quy định cho phép xử lý các giao dịch phát sinh kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án sẽ góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay.
Văn Sáng – VKSND Khu vực 10 thực hiện