= = =
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm những năm gần đây cho thấy tình trạng sử dụng dao, mã tấu, kiếm tự chế hay các vật sắc nhọn nguy hiểm để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, gây rối trật tự công cộng hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người đang tăng lên cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng. Nhiều vụ việc chưa gây hậu quả đặc biệt lớn nhưng vẫn ẩn chứa rủi ro cao, chủ yếu xuất phát từ việc tàng trữ, mang theo hoặc chuẩn bị các loại dao có khả năng sát thương cao.
Để giải quyết tình hình nêu trên, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 (gọi tắt là Luật số 42/2024/QH15, hiệu lực từ 01/01/2025) đã quy định rõ “dao có tính sát thương cao” là vũ khí quân dụng nếu dùng để xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật (điểm d khoản 2, khoản 6 Điều 2). Điều này tạo nền tảng pháp lý vững chắc để áp dụng Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 - BLHS), xử lý các hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép loại dao này.
Tuy nhiên, khái niệm này khá mới, nằm ở ranh giới giữa công cụ sinh hoạt thông thường và vũ khí quân dụng khi mà người thực hiện hành vi không biết rõ các quy định pháp luật có liên quan, và nhận thức, vận dụng của người tiến hành tố tụng đôi khi thiếu nhất quán, nên từ ngày 01/01/2025, việc áp dụng đã nảy sinh không ít bất cập, thiếu thống nhất giữa các cơ quan tố tụng. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến nguyên tắc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật mà còn đòi hỏi chúng ta phải phân tích kỹ lưỡng để đưa ra giải pháp phù hợp.
ảnh minh hoạ từ Internet
Bài viết dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và văn bản hướng dẫn liên ngành (Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao), phân tích các vấn đề thực tiễn áp dụng Điều 304 BLHS với “dao có tính sát thương cao”, đồng thời đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn áp dụng để thống nhất nhận thức, nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
I. Quy định của pháp luật về “dao có tính sát thương cao” và mối quan hệ với Điều 304 BLHS
Luật số 42/2024/QH15 quy định rõ tại khoản 6 Điều 2: “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành”. Khi dùng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, loại dao này được xếp vào vũ khí quân dụng (điểm d khoản 2 Điều 2). Quy định này thể hiện sự thay đổi quan trọng trong tư duy lập pháp, mở rộng kiểm soát đặc biệt với những công cụ trông như vật dụng hàng ngày nhưng có khả năng gây sát thương nghiêm trọng.
Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 (Phụ lục số 05) đã cụ thể hóa bằng danh mục (như dao găm, dao lê, dao quắm, mã tấu), với tiêu chí nhận diện dựa trên cấu tạo, kích thước, độ sắc bén, khả năng gây sát thương và đặc biệt là mục đích sử dụng thực tế. Cách tiếp cận này giúp tránh áp dụng máy móc, phân biệt rõ giữa công cụ sinh hoạt và vũ khí cần quản lý chặt.
Từ đó, Điều 304 BLHS được dùng để xử lý hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép “dao có tính sát thương cao”, với cấu thành hình thức - chỉ cần hành vi bị cấm là đủ truy cứu, không cần hậu quả xảy ra. Các văn bản hướng dẫn liên ngành (Công văn số 4442/ANĐT-P2 ngày 01/01/2025 của Văn phòng Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao) thống nhất: Điều 304 BLHS độc lập với hậu quả, tập trung bảo vệ trật tự quản lý nhà nước về vũ khí, không phải tính mạng hay sức khỏe con người.
Về mối quan hệ với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe (Chương XIV BLHS): Nếu hành vi sử dụng “dao có tính sát thương cao” trái phép gây thương tích hoặc chết người, cần xử lý riêng hai nhóm hành vi - Điều 304 cho xâm phạm quản lý vũ khí, và điều luật tương ứng Chương XIV cho xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Cách này tránh chồng chéo, là hệ quả của việc hành vi xâm phạm nhiều khách thể.
Liên ngành nêu quan điểm rõ ràng là áp dụng Điều 304 BLHS mà không cần có hậu quả thương tích hoặc chết người, vì điều đó không phù hợp bản chất lập pháp, giảm hiệu quả phòng ngừa và dễ bỏ lọt hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép ở giai đoạn chuẩn bị. Hoặc có hậu quả xảy ra nhưng ít nghiêm trọng, được người bị hại rút yêu cầu vẫn xử lý Điều 304 BLHS.
II. Thực tiễn áp dụng Điều 304 Bộ luật Hình sự đối với “dao có tính sát thương cao” và những vấn đề đặt ra
1. Nhận thức và cách tiếp cận trong việc áp dụng Điều 304 BLHS đối với “dao có tính sát thương cao”
Nhận thức sai lầm thường gặp là là xu hướng gắn việc áp dụng Điều 304 BLHS với hậu quả gây thương tích hoặc chết người. Cách hiểu này chưa phù hợp bản chất cấu thành hình thức của tội phạm và mục đích lập pháp về quản lý vũ khí quân dụng.
Theo Điều 304 BLHS, tội phạm hoàn thành ngay khi thực hiện hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, không yêu cầu hậu quả xảy ra. Hậu quả chỉ là căn cứ xử lý tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe (Chương XIV BLHS), không phải yếu tố cấu thành tội xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về vũ khí. Việc đặt nặng hậu quả dễ dịch chuyển mục đích thiết kê điều luật này từ bảo vệ quản lý vũ khí sang xử lý xâm phạm thân thể, làm mờ ranh giới giữa các nhóm tội phạm có khách thể khác nhau, thu hẹp phạm vi áp dụng Điều 304 BLHS và ảnh hưởng hiệu quả phòng ngừa sớm.
Các công văn hướng dẫn liên ngành (Công văn số 4442/ANĐT-P2 ngày 01/01/2025; Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/6/2025) thống nhất: không đồng nhất xử lý Điều 304 BLHS với hậu quả xảy ra. Trách nhiệm hình sự theo Điều 304 BLHS xuất phát từ xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt đối với vũ khí quân dụng, với “dao có tính sát thương cao” là đối tượng kiểm soát nghiêm. Chỉ áp dụng khi có hậu quả không phù hợp mục đích lập pháp, dễ bỏ lọt hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép ở giai đoạn chuẩn bị. Khi hành vi sử dụng “dao có tính sát thương cao” trái phép gây thương tích hoặc chết người, cần xử lý riêng: theo Điều 304 BLHS (xâm phạm quản lý vũ khí) và theo điều luật Chương XIV BLHS (xâm phạm tính mạng, sức khỏe), tránh đồng nhất hoặc thay thế trách nhiệm hình sự giữa tội danh.
2. Vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền điều tra
Một trong những vấn đề hay gặp nhất là xác định thẩm quyền điều tra khi vụ án có dấu hiệu của nhiều tội thuộc các cơ quan khác nhau. Cụ thể, hành vi sử dụng “dao có tính sát thương cao” trái phép thuộc tội xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về vũ khí thuộc thẩm quyền Cơ quan An ninh điều tra, trong khi hành vi gây thương tích hoặc xâm phạm tính mạng lại thuộc thẩm quyền Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, thẩm quyền được xác định dựa trên tội danh và tính chất hành vi, đồng thời phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan. Nhưng khi vụ án có cả hai nhóm hành vi xâm phạm hai khách thể khác nhau thì dễ gây lúng túng trong việc chọn cơ quan chủ trì. Thực tế, một số nơi cho rằng nếu chỉ khởi tố duy nhất Điều 304 BLHS thì thuộc Cơ quan An ninh điều tra; còn nếu khởi tố đồng thời cả tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe thì giao hết cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Cách nghĩ này thường dẫn đến việc “kéo” cả vụ án về một cơ quan mà chưa cân nhắc kỹ khả năng tách vụ hoặc xác định tội danh chính, dễ vi phạm nguyên tắc thẩm quyền.
Liên ngành Trung ương đã thống nhất hướng xử lý linh hoạt (theo Công văn số 2172/ANĐT-P2 ngày 08/10/2025 và Công văn số 4535/VKSTC-V1 ngày 14/9/2025):
- Nếu tách vụ án mà không ảnh hưởng đến việc làm rõ sự thật khách quan, toàn diện của vụ việc, thì tách ra để mỗi cơ quan điều tra theo đúng thẩm quyền của mình.
- Nếu các hành vi có mối liên hệ chặt chẽ, chứng cứ và diễn biến không thể tách rời, thì xác định cơ quan chủ trì dựa trên tính chất, mục đích chính của vụ án. Với các vụ sử dụng “dao có tính sát thương cao” gây thương tích hoặc xâm phạm tính mạng, các hướng dẫn liên ngành thường thống nhất giao Cơ quan Cảnh sát điều tra chủ trì toàn bộ, kể cả phần dấu hiệu tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Quy định này giúp đảm bảo tính thống nhất trong điều tra, tạo thuận lợi trong việc xử lý vụ án có hai hành vi, hai tội danh do một chủ thể thực hiện, rút ngắn thời hạn tố tụng và nâng cao hiệu quả xử lý.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn chưa thống nhất giữa các địa phương, đặc biệt trong trường hợp vụ án khởi tố ban đầu về tội cố ý gây thương tích theo yêu cầu của người bị hại. Khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố, nhiều nơi băn khoăn liệu có phải chuyển vụ án sang Cơ quan An ninh điều tra để tiếp tục điều tra về tội theo Điều 304 BLHS hay không.
Cần nhận thức rõ ràng: quyền rút yêu cầu khởi tố chỉ làm chấm dứt việc giải quyết đối với tội danh khởi tố theo yêu cầu của người bị hại (khoản 1 Điều 134 BLHS), chứ không làm mất đi căn cứ xử lý độc lập đối với hành vi xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về vũ khí theo Điều 304 BLHS nếu hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nói cách khác, nếu vụ án đã khởi tố cả hai tội từ đầu, sau khi bị hại rút yêu cầu, phần tội theo Điều 134 BLHS sẽ chấm dứt, nhưng phần hành vi liên quan đến “dao có tính sát thương cao” vẫn được tiếp tục điều tra theo Điều 304 BLHS. Cơ quan đang thụ lý (thường là Cơ quan Cảnh sát điều tra nếu họ chủ trì toàn bộ) vẫn giữ thẩm quyền xử lý phần còn lại, trừ trường hợp liên ngành quyết định chuyển giao cụ thể.
Vướng mắc về thẩm quyền điều tra trong các vụ liên quan “dao có tính sát thương cao” không chỉ là vấn đề kỹ thuật tố tụng, mà còn đòi hỏi nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa các tội danh có khách thể khác nhau, cũng như vai trò quan trọng của hướng dẫn liên ngành để áp dụng pháp luật thống nhất, đúng thẩm quyền và đúng bản chất từng hành vi phạm tội.
3. Vướng mắc trong việc định tội danh khi không thu giữ được hung khí
Khó khăn đáng chú ý là định tội danh khi không thu giữ được “dao có tính sát thương cao”, dù có lời khai, kết luận giám định thương tích và chứng cứ khác. Vấn đề này đòi hỏi làm rõ mối quan hệ giữa chứng cứ vật chất (hung khí) và chứng cứ gián tiếp, cũng như phạm vi chứng minh cần thiết để truy cứu theo Điều 304 BLHS.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, xác định tội danh dựa trên tổng hợp chứng cứ hợp pháp, toàn diện, khách quan; không bắt buộc phải có đầy đủ mọi loại chứng cứ nếu chứng cứ khác đủ giá trị chứng minh. Tuy nhiên, thực tiễn nhiều cơ quan coi thu giữ và giám định trực tiếp hung khí là căn cứ quan trọng, thậm chí quyết định để áp dụng Điều 304 BLHS. Đặc thù của “dao có tính sát thương cao” đòi hỏi xác định dựa trên đặc điểm kỹ thuật, khả năng gây sát thương và mục đích sử dụng. Khi thiếu hung khí, việc xác định chính xác công cụ trở nên khó khăn, dễ dẫn đến tranh luận trong đánh giá chứng cứ. Hiện chưa có hướng dẫn chính thức của liên ngành về xử lý trường hợp này, nên các cơ quan tiếp cận thận trọng để tránh suy diễn chủ quan hoặc hình sự hóa khi chưa đủ căn cứ xác định là vũ khí quân dụng.
Vướng mắc này cho thấy khoảng trống trong hướng dẫn áp dụng Điều 304 BLHS, đặc biệt khâu đánh giá chứng cứ, cần nghiên cứu, tổng kết và hướng dẫn thống nhất để vừa không bỏ lọt tội phạm, vừa tránh mở rộng áp dụng khi chưa đủ căn cứ pháp lý vững chắc, bảo đảm nguyên tắc đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
4. Mối quan hệ giữa Điều 304 BLHS và khoản 6 Điều 134 BLHS trong trường hợp chuẩn bị “dao có tính sát thương cao”
Vấn đề đặt ra là xác định mối quan hệ giữa Điều 304 BLHS và khoản 6 Điều 134 BLHS khi chuẩn bị “dao có tính sát thương cao” nhằm gây thương tích, từng tồn tại cách hiểu khác nhau do cả hai quy định đều điều chỉnh hành vi chuẩn bị công cụ nguy hiểm nhưng thuộc nhóm tội phạm có khách thể khác nhau.
Điều 304 BLHS (Chương XIX) điều chỉnh hành vi liên quan vũ khí quân dụng với cấu thành hình thức, hoàn thành ngay khi thực hiện hành vi bị cấm. Điều 134 BLHS (Chương XIV) là tội phạm cấu thành vật chất, ngoại trừ khoản 6 quy định chuẩn bị phạm tội với phạm vi hẹp, áp dụng cho hành vi chuẩn bị có mức độ nguy hiểm đặc biệt cao. Sau khi Luật 2024 xác định “dao có tính sát thương cao” là vũ khí quân dụng, Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 khẳng định: chuẩn bị “dao có tính sát thương cao” nhằm gây thương tích chỉ truy cứu theo Điều 304 BLHS, không truy cứu khoản 6 Điều 134 BLHS. Quan điểm này dựa trên việc hành vi chuẩn bị, tàng trữ, sử dụng trái phép “dao có tính sát thương cao” chủ yếu xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về vũ khí - khách thể của Điều 304 BLHS. Xử lý theo Điều 304 BLHS nhằm ngăn chặn sớm nguy cơ bạo lực, bảo đảm phòng ngừa từ xa, không nhằm trừng trị hậu quả xâm hại sức khỏe.
Áp dụng khoản 6 Điều 134 BLHS trong trường hợp này dễ gây chồng lấn tội danh, làm mờ ranh giới giữa hai nhóm tội phạm và suy giảm ý nghĩa độc lập của Điều 304 BLHS. Hướng áp dụng duy nhất Điều 304 BLHS đảm bảo xử lý đúng khách thể, tránh “hình sự hóa trùng lặp”, phù hợp mục tiêu lập pháp phòng ngừa sớm. Khoản 6 Điều 134 BLHS chỉ áp dụng cho chuẩn bị bằng công cụ không thuộc vũ khí quân dụng.
5. Trường hợp người chuẩn bị “dao có tính sát thương cao” tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích
Vấn đề đặt ra là khi người chuẩn bị “dao có tính sát thương cao” đồng thời tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích, người này có bị truy cứu đồng thời hai tội: Điều 304 BLHS và khoản 6 Điều 134 BLHS hay không.
Khoản 6 Điều 134 BLHS là quy định đặc thù về chuẩn bị phạm tội, giới hạn trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị có mức độ nguy hiểm cao (chuẩn bị vũ khí, hung khí nguy hiểm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích), thể hiện sự thu hẹp có chủ đích so với nguyên tắc chung tại Điều 14 BLHS. Tuy nhiên, Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 xác định: chuẩn bị “dao có tính sát thương cao” nhằm gây thương tích chỉ truy cứu theo Điều 304 BLHS, không truy cứu khoản 6 Điều 134 BLHS, vì hành vi này đã được điều chỉnh độc lập bởi Điều 304 BLHS khi “dao có tính sát thương cao” là vũ khí quân dụng. Khi người chuẩn bị dao tham gia nhóm tội phạm, cần phân hóa trách nhiệm theo vai trò và hành vi: hành vi chuẩn bị dao được “thu hút” vào Điều 304 BLHS, không truy cứu thêm khoản 6 Điều 134 BLHS đối với cùng chủ thể, tránh chồng lấn và “hình sự kép”. Các thành viên khác trong nhóm nếu có hành vi độc lập phù hợp khoản 6 Điều 134 BLHS (thành lập, tham gia nhóm nhằm gây thương tích) vẫn bị truy cứu theo quy định (dựa trên nguyên tắc cá thể hóa tại Điều 3 BLHS).
Việc xử lý phải phân định rõ khách thể bị xâm phạm: hành vi liên quan “dao có tính sát thương cao” theo Điều 304 BLHS; hành vi chuẩn bị phạm tội khác của đồng phạm theo khoản 6 Điều 134 BLHS nếu đủ yếu tố. Cách tiếp cận này đảm bảo thống nhất áp dụng pháp luật, phù hợp chính sách hình sự và định hướng hướng dẫn liên ngành.
III. Kiến nghị
Từ những phân tích trên, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và hướng dẫn áp dụng để khắc phục các bất cập, đảm bảo thống nhất nhận thức và hiệu quả thi hành Điều 304 BLHS đối với “dao có tính sát thương cao”.
- Cần khẳng định rõ trong các văn bản hướng dẫn liên ngành rằng Điều 304 BLHS nhằm bảo vệ trật tự quản lý nhà nước về vũ khí, với cấu thành hình thức, không phụ thuộc vào hậu quả xâm hại tính mạng, sức khỏe. Liên ngành Trung ương nên hệ thống hóa các quan điểm trong các công văn hướng dẫn thành một văn bản chung, nhằm thống nhất nhận thức toàn hệ thống, hạn chế cách hiểu thu hẹp phạm vi điều chỉnh, đồng thời bảo đảm mục tiêu phòng ngừa sớm, phòng ngừa từ xa của chính sách hình sự.
- Cần làm rõ nguyên tắc xác định thẩm quyền theo tội danh chính và khả năng tách vụ án, trên cơ sở Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Hướng dẫn phải nhấn mạnh: thay đổi tình trạng khởi tố của một tội danh (ví dụ: bị hại rút yêu cầu khởi tố tội cố ý gây thương tích) không làm mất căn cứ xử lý độc lập hành vi xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về vũ khí theo Điều 304 BLHS, tránh đùn đẩy thẩm quyền hoặc kéo dài tố tụng.
- Cần bổ sung hướng dẫn nguyên tắc về đánh giá chứng cứ trong các vụ án liên quan đến vũ khí quân dụng, xác định rõ giới hạn chứng minh hành vi sử dụng vũ khí quân dụng trái phép. Hướng dẫn phải bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội, cho phép đánh giá tổng hợp chứng cứ gián tiếp (lời khai, giám định thương tích, hình ảnh, video), đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để tránh suy diễn chủ quan hoặc bỏ lọt tội phạm.
- Cần thể chế hóa quan điểm tại Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 (“chuẩn bị dao có tính sát thương cao nhằm gây thương tích chỉ truy cứu theo Điều 304 BLHS, không truy cứu khoản 6 Điều 134 BLHS”) vào văn bản hướng dẫn hệ thống, làm rõ ranh giới giữa hành vi chuẩn bị công cụ phạm tội thuộc phạm vi Điều 304 BLHS và các hành vi chuẩn bị khác theo khoản 6 Điều 134 BLHS, tránh chồng lấn trách nhiệm hình sự và đảm bảo tính minh bạch.
- Cần hướng dẫn nhấn mạnh nguyên tắc không xử lý hình sự trùng lặp đối với cùng chủ thể và cùng hành vi chuẩn bị “dao có tính sát thương cao”. Hành vi này đã được “thu hút” vào Điều 304 BLHS; các thành viên khác trong nhóm chỉ xem xét theo khoản 6 Điều 134 BLHS nếu có hành vi độc lập phù hợp dấu hiệu điều luật, đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và phù hợp chính sách hình sự hiện hành.
Tài liệu tham khảo
[1] Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024
[2] Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an, Phụ lục số 05.
[3] Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP ngày 09/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[5] Công văn số 4442/ANĐT-P2 ngày 01/01/2025 của Văn phòng Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an;
[6] Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
[7] Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao.
[8] Công văn số 2172/ANĐT-P2 ngày 08/10/2025 của Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an.
[9] Công văn số 4535/VKSTC-V1 ngày 14/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
[10] Công văn số 5204/VKSTC-V1 ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Hữu Hậu - VKSND Khu vực 10 thực hiện